Phố của anh, của em...

Những Sài Gòn trong Sài Gòn (P1): Một vùng thành đô, một miền thảo dã

Ở Sài Gòn hồi trước, cứ xuống tới Hàng Xanh là đã thấy ngoại thành. Ngay ngã tư, những cỗ xe thổ mộ đứng xếp hàng, rộn ràng bắt khách. Mỗi cỗ xe buộc vào một con ngựa. Con vật có ánh mắt sâu vạn dặm được đeo cương, trở thành linh hồn của phương tiện.

Hành khách ổn định, hàng hóa để sát dưới chân, trẻ em được ngồi kèm giữa những người lớn, sẵn sàng cho một đoạn đường dằn xóc. Đến khi người phu xe quất roi vào mông ngựa, xe lăn bánh; phần Sài Gòn đang xa khuất phía sau như một thị tứ của những-vùng-Sài-Gòn-sắp-tới.

Xe từ Hàng Xanh tỏa đi nhiều ngả. Mà ngả nào cũng mang hành khách lạc vào những Sài Gòn khác. 

Từ Hàng Xanh, xe xuôi về hướng Hóc Môn, ngang một đầm lầy lau lách đầu tiên ngay vị trí đường Đinh Bộ Lĩnh bây giờ. Phu xe thường kéo vó thật gấp ngay đoạn Bảy Hiền, đặng giao hàng hoặc trả khách, trước khi vút đi trong tiếng máy dệt rầm rập tứ bề.

Đến ngay đoạn ngang qua lối vào nghĩa trang Bình Hưng Hòa, trời đất đã “báo trạm” bằng một rừng bạch dương rợn ngợp như hình ảnh trong Văn tế thập loại chúng sinh: “Đường bạch dương bóng chiều man mác”. Vùng tâm linh chìm giữa cỏ cây và thiên nhiên hoang vắng đó đôi khi níu giữ người nội thành đến hết ngày.

Men theo con đường Bình Quới mà đi xa dần Sài Gòn, đoạn sau cuối mỗi lúc một hẹp lại giữa cái đông đúc dần của nhà cửa hai bên. Quang cảnh náo nhiệt như các con đường đổ xuống những bãi biển nổi tiếng.

Nhưng, đường Bình Quới chỉ đổ ra sông. Vừa nghe tiếng phà lạch phạch nổ phía trước, đã thấy con đường… chạy thẳng xuống sông. Đường bộ đã hết lối. Xe thổ mộ cũng dừng lại, nhường phần chuyên chở cho con đò. Cũng cùng quãng đường ấy, cũng đổ ra sông, nhưng ở cánh Thủ Thiêm, hành khách ở nội thành Sài Gòn hết hồn tưởng mình lạc xuống tận miền Tây khi thấy mấy dãy mái che tạm bợ, có những chiếc võng cũng tạm bợ.

Tiếng nhạc boléro được vặn to hết cỡ, vọng ra từ quầy thuốc lá ngay đầu lối ra bến đò, nghe hiu hắt cả một khúc sông. Ngay chỗ đó, nhìn ngược lại xuống sông, trời đất như “bắc cầu” giữa hai bờ bằng mấy vạt bèo khổng lồ, chở theo mấy con cò trắng muốt, bình lặng trôi.

Cái xa khác của Thủ Thiêm thời trước còn lưu lại trong vở kịch nói Màu của tình yêu ở rạp Hoàng Thái Thanh tân thời. Mỗi lần bà Nhớ (NSƯT Kim Xuân) thể hiện nỗi giận hờn bằng cái ngúng nguẩy: “Tui dzìa Thủ Thiêm đó nghen!”, ông Thôi Ứng (NSƯT Thành Hội) lại cuống quýt van nài, đền tội – khán giả mất cảnh giác, lại tưởng như Thủ Thiêm đó ở đâu mút chỉ… Cà Mau. 

Cứ thế, ở mọi ngả đường, chiếc xe ngựa đều như chia đôi thành phố này trong cái nhìn của hành khách, dù là người Sài Gòn thứ thiệt, hay người mới ghé chơi lần đầu. 

Xuống xe ở lượt về, Sài Gòn như vừa giã biệt miền thảo dã mà trở lại dáng dấp đô thành. Chiếc xe thổ mộ chỉ còn vọng lại tiếng vó ngựa nhạt nhòa giữa âm thanh của hàng chục phương tiện. Sống ở Sài Gòn gần 70 năm, trong đoạn đời xa xưa đó, nhà văn Nhật Chiêu đã xuôi không biết bao nhiêu chuyến xe thổ mộ về vùng ngoại thành. Đến khi trở lại bến Hàng Xanh, bắt xe lam về khu Vườn Chuối – Bàn Cờ, ông (khi ấy là cậu học trò yêu văn) lại thấy như “Sài Gòn tính” đang khiến chính cái thị tứ sầm uất và giao thoa tứ phía này, cũng đang làm những cuộc phân ly.

Vườn Chuối và Bàn Cờ sát bên nhau. Giữa trung tâm Sài Gòn, xóm Vườn Chuối hiện lên dân dã như một vùng quê đi lạc. Mặc kệ nhà cửa san sát, đường sá chằng chịt như không hề quy hoạch; hai bên đường mọc đầy những bụi chuối, xen kẽ giữa những mái nhà thấp.

Mọi cây chuối đều “có chủ”, nhưng bóng xanh thuộc về những con đường, làm nên những ngõ chuối quê mùa giữa cái không gian chộn rộn thị thành. Xóm Vườn Chuối vốn là một khu chợ tự phát. Người ta chỉ cần đi bộ quanh cái xóm bán đủ thứ, từ vật dụng gia đình đến thực phẩm, đồ ăn vặt… đã đủ đầy cho mọi nỗi thòm thèm của tuổi thơ phố thị.

Thế nhưng, trường tiểu học lại ở bên kia “ranh giới”, trẻ con hai khu dồn lại một trường. Bước qua con đường Vườn Chuối, sau cái cổng “cư xá Đô Thành”, những đứa trẻ phía bên này lại chứng kiến một Sài Gòn tươm tất, nền nếp ở Bàn Cờ.  

Đều là chữ gọi của người dân cả, nhưng một bên là “xóm”, một bên là “cư xá”. Ban ngày, những đứa trẻ xóm Vườn Chuối cuốc bộ sang bên kia học chữ. Ban đêm, ở Bàn Cờ nghe vọng từ bên này tiếng ngựa hí, rồi rầm rập tiếng đạp chân của ngựa từ những trại chuyên phục vụ cho trường đua Phú Thọ ở Vườn Chuối. Và, cái “chất” của Sài Gòn như đã hiện lên đâu đó giữa cả những lồng ghép và phân ly hữu hình lẫn vô hình giữa hai tiểu khu nhiều khác biệt này. 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s